Ở vùng làng hoa và vườn rau của phường Lâm Viên-Đà Lạt, nước tưới đến từ ba nguồn chính: suối nhỏ chảy trong thung lũng, ao đào giữa vườn để hứng và trữ nước mưa, và giếng đào, giếng khoan lấy nước ngầm. Mùa mưa nước dư thừa; mùa khô, khi nhu cầu tưới cao nhất, cả ba nguồn đều giảm, và thiếu nước trở thành nỗi lo thường niên.
Nước ở đây không chỉ là chuyện của người làm vườn. Cùng một hệ suối, ao, giếng ấy còn cấp nước cho sinh hoạt ở những khu chưa có nước máy ổn định, chảy về các hồ cảnh quan, và cuối cùng ra các dòng suối lớn hơn ở hạ lưu.
Bài này đi theo con đường của nước ở vùng ven Lâm Viên: từ mưa trên đồi, xuống suối, vào ao, xuống đất, rồi ra khỏi phường, và những cách người dân giữ nước trong mùa khô. Chuyện an toàn hoá chất nông nghiệp với nguồn nước được viết ở mục làng hoa.
Mưa trên đồi: điểm bắt đầu của mọi nguồn nước
Mọi nguồn nước ở Lâm Viên đều bắt đầu từ mưa. Đà Lạt có mùa mưa dài, thường từ khoảng tháng 4, tháng 5 đến tháng 10, tháng 11, với tổng lượng mưa năm khá lớn. Nước mưa rơi xuống đồi thông thấm vào tầng thảm lá và đất, một phần chảy ngầm ra suối, một phần thấm sâu xuống nuôi nước ngầm.
Trên đất trống, đường bê tông, mái nhà và mái nhà kính, nước mưa không thấm được mà chảy ngay thành dòng trên mặt. Dòng chảy mặt này đổ xuống mương, xuống suối rất nhanh, gây ngập cục bộ trong lúc mưa nhưng không ở lại để nuôi suối trong mùa khô.
Vì vậy cùng một lượng mưa, một thung lũng còn rừng trên đồi sẽ giữ nước tốt hơn hẳn một thung lũng mà đồi đã bị phát trắng và đáy phủ kín mái che. Đây là điểm mấu chốt để hiểu vì sao có năm mưa nhiều mà mùa khô vẫn thiếu nước.
Với người làm vườn, nước mưa còn là nguồn trực tiếp: hứng từ mái nhà kính vào ao, vào bồn chứa. Một mái nhà kính rộng hứng được lượng nước rất lớn mỗi trận mưa, nếu có chỗ chứa.
Suối nhỏ trong thung lũng
Các thung lũng ở Lâm Viên đều có suối nhỏ chảy qua. Phần lớn là suối đầu nguồn, bắt đầu từ chính các đồi trong phường, nhập dần vào nhau rồi chảy ra khỏi địa bàn. Mùa mưa suối đầy, chảy xiết; mùa khô có đoạn chỉ còn rỉ rả hoặc khô hẳn.
Từ thời lập ấp, người làm vườn dẫn nước suối vào vườn bằng mương đất, sau này bằng ống nhựa và máy bơm. Nhiều đoạn suối đã được nắn thẳng, kè bê tông để chống sạt bờ và tăng diện tích vườn. Điều này giúp dòng chảy thoát nhanh trong mùa mưa nhưng làm mất những đoạn suối uốn khúc, những vũng nước giữ nước lâu.
Suối chảy qua vùng trồng trọt dày đặc nên nhận nhiều thứ từ vườn: đất trôi, phân bón, tồn dư thuốc bảo vệ thực vật, bao bì. Chất lượng nước suối ở hạ lưu vùng vườn vì vậy thường kém hơn ở đầu nguồn. Không nên dùng nước suối trong vùng trồng trọt để uống hay nấu ăn khi chưa xử lý.
Một dòng suối khoẻ có bờ còn cây, nước trong vào mùa khô, có cá nhỏ, có ếch nhái. Những dấu hiệu ấy ngày càng hiếm ở các suối giữa vùng nhà kính.
Người lớn tuổi trong các xóm vườn còn nhớ thời có thể uống nước suối ngay tại chỗ, bắt cá, bắt cua ở các vũng nước giữa thung lũng. Ký ức ấy không chỉ là hoài niệm; nó cho thấy một dòng suối có thể sạch đến mức nào khi đầu nguồn còn rừng và hai bên bờ chưa phủ kín vườn trồng.
Ao tưới: kho nước riêng của từng nhà vườn
Đi qua vùng Thái Phiên, Đa Thiện sẽ thấy nhiều ao nhỏ giữa vườn, có ao đất, có ao lót bạt nhựa đen. Đây là kho nước riêng của các nhà vườn: mùa mưa hứng nước từ mái nhà kính, từ mương, từ suối; mùa khô bơm ra tưới.
Ao lót bạt giữ nước tốt hơn ao đất vì không bị thấm, nhưng nước dễ nóng lên khi nắng và dễ có tảo. Ao đất giữ được hệ sinh vật tự nhiên hơn nhưng mất nước qua thấm. Kích thước ao tuỳ diện tích vườn và đất có thể dành ra; ở vùng đất chật, mỗi mét vuông làm ao là một mét vuông không trồng được.
Ao tưới có rủi ro an toàn ít người nghĩ tới. Bờ ao lót bạt trơn, dốc, khó bám để leo lên nếu lỡ trượt chân. Trẻ em, người say, người đi đêm có thể gặp nguy hiểm. Rào quanh ao, để sẵn dây, phao hay sào ở bờ là những việc nên làm.
Ao cũng là nơi muỗi đẻ nếu nước tù lâu ngày. Thả cá nhỏ ăn bọ gậy, giữ nước có lưu thông là cách đơn giản để hạn chế.
Giếng và nước ngầm
Khi suối và ao không đủ, nhiều nhà vườn đào giếng hoặc khoan giếng để lấy nước ngầm. Giếng đào lấy nước ở tầng nông, dễ bị ảnh hưởng bởi nước mặt; giếng khoan lấy nước sâu hơn, thường ổn định hơn nhưng tốn chi phí và cần tuân thủ quy định về khai thác nước dưới đất.
Ở nhiều vùng nông nghiệp Đà Lạt, người dân phản ánh mực nước giếng hạ thấp dần qua các năm, nhất là cuối mùa khô. Nguyên nhân thường được nêu là khai thác nhiều, trong khi lượng nước mưa thấm xuống bổ sung giảm vì mặt đất bị phủ kín. Số liệu cụ thể cho từng khu trong phường không có sẵn trong tài liệu phổ thông.
Nước giếng dùng sinh hoạt nên được kiểm tra chất lượng định kỳ, nhất là giếng gần vườn có bón phân, phun thuốc nhiều. Đơn vị y tế dự phòng hoặc phòng thí nghiệm có chức năng có thể xét nghiệm mẫu nước theo yêu cầu.
Khoan giếng mới cần hỏi chính quyền về thủ tục, vì khai thác nước dưới đất có quy định riêng. Khoan tràn lan không chỉ có rủi ro pháp lý mà còn làm cạn nước của chính hàng xóm.
Nước sinh hoạt ở vùng ven
Khu giáp trung tâm của phường có mạng nước máy như các khu đô thị khác của Đà Lạt. Ở vùng ven, nơi nhà ở rải rác giữa vườn, mạng nước máy có thể chưa tới mọi ngõ, hoặc tới nhưng áp lực yếu ở những nhà nằm cao trên sườn đồi, nhất là vào giờ cao điểm mùa khô.
Nhiều hộ vì vậy dùng kết hợp: nước máy cho ăn uống, nấu nướng; nước giếng cho tắm giặt, tưới cây. Bồn chứa nước đặt trên mái hoặc trên nền cao là hình ảnh quen thuộc ở các xóm ven, giúp có nước dùng khi nguồn chính bị gián đoạn.
Nếu dùng nước giếng cho ăn uống, nên lọc và đun sôi, và xét nghiệm nước định kỳ, nhất là khi giếng gần vườn có bón phân, phun thuốc. Dấu hiệu như nước có mùi lạ, màu lạ, cặn nhiều sau mưa là lý do để kiểm tra ngay.
Người mới chuyển đến vùng ven nên hỏi chủ nhà hoặc hàng xóm về nguồn nước của căn nhà trước khi thuê hay mua: có nước máy chưa, áp lực thế nào mùa khô, nước giếng dùng vào việc gì. Đây là câu hỏi nhỏ nhưng ảnh hưởng tới sinh hoạt hằng ngày.
Chia nước giữa các nhà vườn
Vì nhiều hộ cùng lấy nước từ một con suối, một hồ, chuyện chia nước là chuyện của cả xóm. Trong mùa mưa ai cũng đủ nên ít va chạm. Đến cuối mùa khô, khi suối chỉ còn chảy nhỏ, nhà ở thượng nguồn bơm nhiều thì nhà ở hạ nguồn thiếu, và căng thẳng có thể nảy sinh.
Các xóm làm vườn lâu năm thường có những thoả thuận ngầm: luân phiên ngày bơm, không chặn dòng hoàn toàn, không đổ rác, đất xuống suối. Những thoả thuận này không ghi thành văn nhưng được giữ nhờ quan hệ hàng xóm lâu đời.
Với những tranh chấp vượt quá chuyện hàng xóm, như lấp suối, chặn dòng, xả thải xuống nguồn chung, tổ dân phố và chính quyền phường là nơi hoà giải và xử lý. Giữ ảnh chụp, ghi lại thời điểm khi có sự việc giúp việc giải quyết công bằng hơn.
Khi có người mới đến mở vườn, thuê đất làm nhà kính, những thoả thuận ấy dễ bị phá vỡ vì người mới không biết. Hỏi hàng xóm về cách chia nước trước khi đặt máy bơm là cách tránh xích mích ngay từ đầu.
Ba nguồn nước tưới: ưu và nhược
Bảng so sánh dưới đây giúp hình dung vì sao phần lớn nhà vườn dùng kết hợp nhiều nguồn chứ không dựa vào một nguồn duy nhất:
| Nguồn | Ưu điểm | Nhược điểm | Mùa khô |
|---|---|---|---|
| Suối | Sẵn có, không tốn công trữ | Chất lượng thất thường, tranh chấp khi ít nước | Giảm mạnh, có đoạn khô |
| Ao trữ nước mưa | Chủ động, nước mưa tương đối sạch | Tốn diện tích, bốc hơi, tảo, rủi ro đuối nước | Cạn dần nếu ao nhỏ |
| Giếng đào, giếng khoan | Ổn định hơn, nước sâu ít nhiễm bẩn mặt | Chi phí, thủ tục, nguy cơ hạ mực nước ngầm | Giếng nông có thể cạn |
Nhà vườn tính toán tốt thường trữ đủ nước mưa vào ao trong mùa mưa để giảm phụ thuộc vào suối và giếng trong mùa khô. Cách tính này phụ thuộc vào diện tích mái hứng, dung tích ao và lượng nước cây cần.
Những cách giữ nước trong mùa khô
Kinh nghiệm của người làm vườn ở Lâm Viên và các vùng nông nghiệp Đà Lạt cho thấy mấy cách giữ nước hiệu quả, không đòi hỏi công nghệ phức tạp:
- Hứng tối đa nước mưa từ mái nhà kính trong mùa mưa, dẫn vào ao hoặc bồn có nắp.
- Tưới nhỏ giọt, tưới phun sương có hẹn giờ thay cho tưới tràn, giảm lượng nước mất do bốc hơi và chảy tràn.
- Tưới vào sáng sớm hoặc chiều muộn, tránh giờ nắng gắt khi nước bốc hơi nhanh nhất.
- Che phủ mặt đất bằng rơm, vỏ trấu, màng phủ để đất giữ ẩm lâu hơn.
- Kiểm tra rò rỉ ống dẫn, khớp nối định kỳ; một chỗ rò nhỏ cả mùa khô mất lượng nước đáng kể.
- Giữ cây và cỏ ven suối, ven ao để giảm bốc hơi và giữ bờ.
Ở cấp cộng đồng, giữ rừng thông trên đồi đầu nguồn là biện pháp giữ nước lâu dài nhất, dù tác dụng không thấy ngay trong một mùa.
Câu hỏi thường gặp
Nước tưới ở làng hoa Lâm Viên lấy từ đâu?
Chủ yếu từ suối nhỏ trong thung lũng, ao đào giữa vườn để trữ nước mưa, và giếng đào hoặc giếng khoan. Phần lớn nhà vườn dùng kết hợp các nguồn để đủ nước quanh năm, nhất là trong mùa khô.
Vì sao mùa khô ở Lâm Viên hay thiếu nước tưới?
Mùa khô kéo dài nhiều tháng gần như không mưa, suối giảm nước, ao cạn dần, giếng nông hạ mực nước, trong khi cây cần tưới nhiều nhất. Mặt đất bị phủ kín bởi nhà, đường, nhà kính cũng làm nước mưa ít thấm xuống nuôi nguồn.
Có nên dùng nước suối trong vùng vườn để sinh hoạt không?
Không nên dùng để uống hay nấu ăn khi chưa xử lý, vì suối chảy qua vùng trồng trọt có thể mang đất, phân bón và tồn dư thuốc bảo vệ thực vật. Nếu phải dùng, cần lọc, đun sôi và tốt nhất là xét nghiệm chất lượng nước.
Khoan giếng ở Đà Lạt có cần xin phép không?
Khai thác nước dưới đất có quy định riêng, tuỳ quy mô và mục đích. Trước khi khoan, nên hỏi chính quyền phường hoặc cơ quan quản lý tài nguyên nước về thủ tục hiện hành để tránh vi phạm và tránh ảnh hưởng tới giếng của hàng xóm.
Ao tưới lót bạt có nguy hiểm không?
Có. Bờ ao lót bạt trơn và dốc, người lỡ trượt xuống rất khó tự leo lên. Nên rào quanh ao, để sẵn sào, dây hoặc phao ở bờ, dặn trẻ em không lại gần, và không đi một mình quanh ao vào ban đêm.