Phần lớn cư dân vùng phường 8, 9, 12 cũ của Đà Lạt, nay là phường Lâm Viên-Đà Lạt, là con cháu của những người từ nơi khác lên lập nghiệp qua nhiều đợt: người lập các ấp trồng rau thời Pháp thuộc, người di cư từ miền Bắc vào Nam năm 1954, người đến sau 1975 theo các chương trình kinh tế và công tác, và những đợt người đến tìm việc, học tập, làm du lịch từ cuối thế kỷ XX đến nay.
Trước tất cả các đợt đó, cao nguyên là đất sinh sống của người K’Ho. Đô thị Đà Lạt và vành đai làng ven đô của nó ra đời muộn, trong vòng khoảng một thế kỷ, nên ở Lâm Viên hiếm gia đình người Kinh nào có nhiều hơn bốn, năm đời ở đây.
Bài này phác lại các đợt người đến, mỗi đợt để lại gì trên vùng phía đông bắc Đà Lạt, và vì sao hiểu chuyện này giúp hiểu đời sống của phường hôm nay. Do tư liệu thống kê dân cư theo từng phường cũ rất ít, bài chỉ nêu xu hướng, không đưa con số.
Trước khi có Đà Lạt: chủ nhân cao nguyên
Trước khi người Pháp đặt chân lên cao nguyên Lâm Viên vào cuối thế kỷ XIX, vùng đất này là nơi sinh sống của các nhóm người thuộc dân tộc K’Ho, trong đó người Lạch sống quanh vùng chân núi Lang Biang và lòng chảo Đà Lạt. Họ làm rẫy, săn bắt, hái lượm, sống thành buôn làng ven suối.
Khi đô thị Đà Lạt hình thành, các buôn làng bản địa dần lùi ra vùng ven, phần đông tập trung ở phía bắc, vùng Lạc Dương ngày nay. Trên đất phường 8, 9, 12 cũ, dấu vết buôn làng xưa không còn rõ; những gì còn lại chủ yếu là tên gọi và ký ức.
Nhắc tới lớp cư dân đầu tiên này không phải chỉ để cho đủ. Nó nhắc rằng câu chuyện “lên Đà Lạt khai phá đất hoang” của người đến sau, xét kỹ, là chuyện đến một vùng đất đã có chủ, chỉ là thưa người. Nhiều tên gọi, nhiều kiến thức về rừng, suối, thời tiết mà người đến sau dùng có gốc từ người bản địa.
Đời sống của đồng bào K’Ho hôm nay, nghề dệt, cồng chiêng, lễ hội, được viết ở mục con người và văn hoá của trang.
Đợt thứ nhất: các ấp trồng rau thời Pháp
Khi Đà Lạt được xây dựng thành đô thị nghỉ dưỡng trong nửa đầu thế kỷ XX, chính quyền thời đó cần lao động và nguồn thực phẩm tại chỗ. Người Việt từ nhiều vùng được đưa hoặc tự tìm lên: làm thợ xây, làm phu đường, làm người giúp việc trong các biệt thự, và đặc biệt là lập các ấp trồng rau quanh thành phố.
Trên đất phường Lâm Viên-Đà Lạt hôm nay có hai làng tiêu biểu của đợt này: làng Hà Đông ở vùng phường 8 cũ, do người gốc miền Bắc lập và đặt theo tên quê, và làng Thái Phiên ở phường 12 cũ.
Ở phía đông bắc, làng Thái Phiên là ví dụ rõ nhất, do người từ các tỉnh miền Trung lập vào khoảng cuối thập niên 1930. Những ấp như vậy tạo nên lớp cư dân nông nghiệp đầu tiên của vùng ven, với nếp nhà, giọng nói, phong tục mang từ quê cũ.
Đời sống của đợt người này gắn chặt với đô thị: rau họ trồng bán cho chợ Đà Lạt, con cái họ đi học ở trường trong phố. Nhưng họ vẫn là người làng, sống theo nhịp mùa vụ chứ không theo nhịp công sở.
Lịch sử riêng của làng Thái Phiên được viết ở một bài khác trong mục này; ở đây chỉ đặt nó vào bức tranh chung của các đợt người.
Đợt thứ hai: người miền Bắc di cư năm 1954
Sau Hiệp định Genève năm 1954, một số lượng lớn người từ miền Bắc di cư vào Nam. Đà Lạt với khí hậu mát mẻ, gần giống mùa đông miền Bắc, là nơi nhiều gia đình chọn lên sinh sống. Họ lập các khu dân cư mới ở nhiều nơi quanh thành phố, mang theo nghề trồng rau, trồng hoa, làm bánh, buôn bán của quê cũ.
Đợt người này làm thành phần dân cư Đà Lạt thêm đa dạng. Giọng Bắc, món ăn Bắc, nếp sinh hoạt Bắc hoà vào phố núi vốn đã có người miền Trung và người Nam. Nhiều cơ sở tôn giáo, trường học, hội đoàn cũng ra đời trong giai đoạn này để phục vụ cộng đồng mới.
Người di cư năm 1954 tập trung ở những vùng nào cụ thể trong phường 8, 9, 12 cũ thì tài liệu phổ thông không ghi chi tiết. Cách nói thận trọng là đợt di cư này góp phần lấp đầy nhiều khu ven đô của Đà Lạt, trong đó có vùng phía bắc và đông bắc.
Với người tìm hiểu gia phả, những gia đình có ông bà “vào Nam năm 1954 rồi lên Đà Lạt” khá phổ biến trong các phường ven.
Đợt thứ ba: sau năm 1975
Sau năm 1975, Đà Lạt đón thêm nhiều người từ các tỉnh: cán bộ, công nhân viên được điều động lên công tác, gia đình đi theo các chương trình xây dựng vùng kinh tế mới, người từ thành phố lên làm nông nghiệp. Cũng có những gia đình rời Đà Lạt đi nơi khác, nên thành phần dân cư thay đổi theo cả hai chiều.
Ở vùng ven phía đông bắc, đất nông nghiệp tiếp tục được khai thác, nhiều xóm mới hình thành trên các sườn đồi. Trường Đại học Đà Lạt, Viện Nghiên cứu Hạt nhân và các cơ quan khác cũng đưa tới một lớp cư dân trí thức, kỹ thuật từ khắp nơi.
Những năm đầu sau 1975 là giai đoạn khó khăn chung của cả nước, và người ở vùng ven Đà Lạt cũng không ngoại lệ. Nhiều gia đình kể lại thời kỳ ấy bằng những câu chuyện tự trồng, tự làm để sống qua ngày, và nhờ đất vườn mà có cái ăn.
Đợt người này hiện là lớp ông bà, cha mẹ của nhiều gia đình đang sống ở phường Lâm Viên-Đà Lạt. Câu chuyện “nhà ông nội lên đây năm…” vẫn thường được kể trong các bữa cơm.
Đợt thứ tư: tìm việc, đi học, làm du lịch
Từ cuối thế kỷ XX, khi nông nghiệp hàng hoá và du lịch phát triển, vùng ven Đà Lạt thu hút một lớp người mới: lao động làm thuê trong vườn hoa, vườn rau, nhà kính, đến từ các tỉnh lân cận và cả miền Bắc, miền Trung; sinh viên lên học rồi ở lại; người làm dịch vụ du lịch, mở quán, mở homestay.
Dòng người này khác các đợt trước ở chỗ nó không theo một chương trình hay một biến cố lớn nào, mà là dòng chảy liên tục theo cơ hội việc làm. Người đến rồi đi, có năm đông, có năm thưa, tuỳ giá hoa, giá rau và mùa du lịch.
Người làm thuê trong nhà kính là lực lượng quan trọng nhưng ít được kể. Họ ở trọ trong xóm, có người ở theo mùa vụ, có người ở lâu rồi lập gia đình. Không có họ, những thung lũng nhà kính của Lâm Viên khó vận hành như hiện nay.
Sinh viên Trường Đại học Đà Lạt là một dòng người đến và đi liên tục. Mỗi năm có lớp mới đến, lớp cũ ra trường; một phần ở lại làm việc, lấy vợ lấy chồng ở Đà Lạt, trở thành cư dân lâu dài.
Những năm gần đây còn có thêm người từ các thành phố lớn lên sống, làm việc từ xa, mở cơ sở nhỏ, tìm một nhịp sống chậm hơn. Đợt người này thường thuê hoặc mua nhà ở vùng ven, kéo theo những thay đổi về giá đất và kiểu nhà.
Các đợt người đến vùng đông bắc Đà Lạt: dấu vết để lại
Bảng tóm lược dưới đây không nhằm xếp hạng hay so sánh, chỉ giúp hình dung mỗi đợt người góp gì vào bộ mặt vùng phường 8, 9, 12 cũ:
| Đợt | Thời gian (khoảng) | Dấu vết còn thấy |
|---|---|---|
| Cư dân bản địa | Trước khi có Đà Lạt | Tên gọi gắn sông suối, kiến thức về rừng và thời tiết |
| Người lập ấp trồng rau | Nửa đầu thế kỷ XX | Làng Thái Phiên, xóm vườn trên sườn đồi, nhà gỗ cũ |
| Người di cư năm 1954 | Giữa thập niên 1950 | Thêm giọng nói, món ăn, nếp sống miền Bắc ở các khu ven |
| Người đến sau 1975 | Cuối thập niên 1970, 1980 | Xóm mới trên đồi, lớp cư dân trí thức, kỹ thuật |
| Người đến tìm việc, đi học, làm du lịch | Từ cuối thế kỷ XX | Nhà trọ, nhà kính, homestay, quán xá quanh khu đại học |
| Người thành phố lên sống | Những năm gần đây | Nhà vườn kiểu mới, cơ sở nhỏ, làm việc từ xa |
Các đợt không tách bạch: người của đợt sau có khi là họ hàng của đợt trước, đến vì có người quen. Ranh giới giữa các đợt mờ dần qua hôn nhân, hàng xóm, làm ăn chung.
Hiểu các đợt người để hiểu phường hôm nay
Thành phần dân cư nhiều lớp giải thích nhiều điều ở phường Lâm Viên-Đà Lạt. Giọng nói trong một con hẻm có thể có đủ ba miền. Bữa cơm một nhà có thể có món của quê nội ở miền Trung, quê ngoại ở miền Bắc và món rau Đà Lạt. Các dịp lễ, giỗ được tổ chức theo nếp của từng quê.
Cũng vì nhiều lớp người, phường có những nhu cầu khác nhau cùng lúc: người làm vườn lâu năm cần nước tưới, đường vào vườn, chính sách đất nông nghiệp; người làm thuê cần chỗ trọ, trường cho con; sinh viên cần nhà trọ giá phải chăng, đi lại thuận tiện; người mới lên sống cần dịch vụ, internet, không gian yên tĩnh.
Hiểu lịch sử các đợt người giúp người mới đến hoà nhập dễ hơn: biết rằng ai cũng từng là người mới ở đây, chỉ khác là trước hay sau vài chục năm. Nó cũng giúp người cũ cởi mở hơn với người đến sau, vì chính ông bà mình cũng từng đến như thế.
Những khác biệt văn hoá, lễ hội, nếp sống cụ thể của người Lâm Viên hôm nay được viết ở mục con người và văn hoá; bài này dừng ở phần lịch sử.
Lịch sử nhiều lớp người cũng là lý do phường cần những không gian chung: nhà văn hoá tổ dân phố, sân chơi, chợ, trường học, nơi người cũ và người mới gặp nhau. Ở những nơi như vậy, câu chuyện quê quán dần nhường chỗ cho câu chuyện chung của xóm, và người đến sau trở thành người Lâm Viên lúc nào không hay.
Câu hỏi thường gặp
Người Đà Lạt gốc là ai?
Chủ nhân lâu đời của cao nguyên là người K’Ho, trong đó có nhóm Lạch. Người Kinh ở Đà Lạt đều đến từ nơi khác trong khoảng một thế kỷ qua, qua nhiều đợt khác nhau. Vì vậy khái niệm người Đà Lạt gốc thường được hiểu là người đã sống ở đây nhiều đời.
Làng ven đô phía đông bắc Đà Lạt hình thành từ khi nào?
Những làng đầu tiên như Thái Phiên được lập vào khoảng cuối thập niên 1930, thời Pháp thuộc, để trồng rau cung cấp cho đô thị. Các xóm khác hình thành dần qua những đợt người đến sau, nhất là sau năm 1954 và sau năm 1975.
Người di cư năm 1954 lên Đà Lạt nhiều không?
Đà Lạt là một trong những nơi nhiều gia đình di cư từ miền Bắc năm 1954 chọn sinh sống, vì khí hậu mát gần với miền Bắc. Họ góp phần lấp đầy nhiều khu ven đô. Số liệu chi tiết theo từng phường cũ không có trong tài liệu phổ thông.
Vì sao ở Lâm Viên có nhiều người làm thuê từ tỉnh khác?
Vì vùng này có nhiều nhà kính trồng hoa, trồng rau cần nhiều lao động quanh năm. Người làm thuê đến từ các tỉnh lân cận và nhiều miền khác, có người ở theo mùa vụ, có người ở lâu dài rồi lập gia đình tại đây.
Muốn tìm hiểu gia đình mình lên Đà Lạt khi nào thì bắt đầu từ đâu?
Bắt đầu từ lời kể của ông bà, cha mẹ, giấy tờ cũ như sổ hộ khẩu, giấy khai sinh, ảnh gia đình. Bia ở đình chùa, nhà thờ họ và nghĩa trang cũng ghi quê quán. Ghép các nguồn lại thường ra được mốc tương đối.