Phường Lâm Viên-Đà Lạt nằm ở phần đông bắc lòng chảo Đà Lạt, độ cao phổ biến khoảng 1.500 mét so với mực nước biển. Địa hình là những dải đồi thấp, đỉnh tròn, sườn thoải đến dốc vừa, xen giữa là các thung lũng rộng có suối chảy qua. Đất chủ yếu là đất đỏ vàng, chua, dễ bị rửa trôi khi mưa trên sườn dốc.
Kiểu địa hình này quyết định gần như mọi thứ trong phường: đỉnh và sườn đồi còn rừng thông, thung lũng là nơi trồng hoa, trồng rau và nay phủ kín nhà kính, nhà ở bám theo các con đường men sườn, còn các hồ như Than Thở, Đa Thiện được tạo ra bằng cách chặn suối ở chỗ thung lũng hẹp lại.
Bài này tả địa hình của phường theo từng dạng: đồi, thung lũng, suối, đất; nói vì sao địa hình ở đây khác khu trung tâm và vùng núi phía bắc; và địa hình ảnh hưởng thế nào tới chuyện làm nhà, làm vườn, đi lại.
Vị trí trên lòng chảo Đà Lạt
Đà Lạt nằm trên một vùng đất cao tương đối bằng phẳng của cao nguyên Lâm Viên, thường được tả như một lòng chảo rộng: ở giữa là đồi thấp và thung lũng, xung quanh là các dãy núi cao hơn. Phía bắc có núi Lang Biang, phía đông và đông nam có những dãy núi chạy về hướng Cầu Đất, Trạm Hành.
Phường Lâm Viên-Đà Lạt chiếm phần phía bắc và đông bắc của lòng chảo. So với khu trung tâm quanh hồ Xuân Hương, địa hình ở đây ít bị đô thị hoá hơn, các đồi còn giữ được nhiều mảng rừng thông, các thung lũng rộng và liền hơn. So với vùng núi phía bắc, địa hình lại thấp và thoải hơn hẳn, chưa có những sườn núi dốc đứng.
Vị trí nằm giữa này giải thích vì sao phường có cả khu dân cư đô thị lẫn vùng nông nghiệp lớn. Phần giáp trung tâm có đồi thoải, dễ làm nhà; phần ven có thung lũng rộng, dễ làm vườn; phần rìa còn đồi thông liền, giữ vai trò cảnh quan và giữ nước.
Con số độ cao khoảng 1.500 mét là con số phổ biến cho Đà Lạt nói chung. Trong phạm vi một phường, đỉnh đồi và đáy thung lũng chênh nhau vài chục mét, đủ để tạo khác biệt rõ về gió, nhiệt độ và sương giữa các khu.
Đồi: đỉnh tròn, sườn thoải, còn nhiều thông
Đồi ở Lâm Viên phần lớn có đỉnh tròn, sườn thoải đến dốc vừa, kiểu địa hình đồi bị bào mòn lâu đời. Trên đỉnh và phần trên sườn, rừng thông ba lá mọc thành từng mảng, có chỗ liền, có chỗ đã thưa vì nhà và vườn lấn lên.
Sườn hướng về phía đường thường đã thành khu dân cư, nhà xây thành bậc theo sườn. Sườn quay về thung lũng thường là vườn bậc thang, dưới chân là nhà kính. Đứng trên đỉnh một ngọn đồi ở phường 12 cũ, có thể thấy rõ cấu trúc ba tầng này: thông trên cao, nhà và vườn ở giữa, nhà kính dưới thấp.
Đồi thông có vai trò lớn với tự nhiên của phường: giữ đất, giảm dòng chảy mặt khi mưa, tạo bóng râm và là nơi sống của chim. Khi rừng trên đỉnh đồi bị phát, nước mưa chảy nhanh hơn xuống thung lũng, mang theo đất, làm bồi lấp hồ và gây ngập cục bộ phía dưới.
Với người làm nhà trên đồi, sườn thoải là lợi thế nhưng không phải là không có rủi ro. San gạt sườn để có mặt bằng, đào taluy cao, đổ đất xuống sườn là những việc có thể gây sạt trượt khi mưa dài ngày. Chuyện xây nhà trên đất dốc về mặt thủ tục được viết ở mục thủ tục và đời sống.
Thung lũng: đáy rộng, có suối, thành vùng trồng trọt
Giữa các dải đồi là những thung lũng có đáy tương đối rộng, có suối nhỏ chảy qua. Đây là dạng địa hình quan trọng nhất với kinh tế của phường. Đáy thung lũng có đất dày hơn, giữ ẩm tốt hơn, gần nguồn nước, nên từ thời lập ấp đã được dùng để trồng rau, sau này trồng hoa.
Ngày nay nhiều thung lũng ở vùng Thái Phiên, Đa Thiện gần như phủ kín nhà kính. Nhìn từ trên đồi xuống, thung lũng như một mặt hồ màu trắng xám. Nhà kính tận dụng được đất bằng của đáy thung lũng, nhưng cũng thay đổi cách nước mưa chảy và cách không khí lạnh đọng lại.
Thung lũng cũng là nơi người ta đắp đập tạo hồ. Ở chỗ thung lũng thắt hẹp, một con đập ngang giữ nước suối lại thành hồ, phục vụ tưới tiêu và tạo cảnh. Hồ Than Thở, hồ Đa Thiện đều thuộc dạng này.
Một đặc điểm ít người để ý: đáy thung lũng thường lạnh hơn đỉnh đồi vào ban đêm và sáng sớm, vì không khí lạnh nặng hơn, trượt xuống và đọng lại. Hiện tượng này giải thích nhiều chuyện về sương và cây trồng, được viết riêng ở một bài trong mục này.
Ba dạng địa hình và cách người dân sử dụng
Bảng dưới tóm tắt cách các dạng địa hình chính trong phường đang được dùng, và những lưu ý tương ứng:
| Dạng địa hình | Đặc điểm | Cách sử dụng phổ biến | Điều cần lưu ý |
|---|---|---|---|
| Đỉnh và sườn trên đồi | Đất mỏng, nhiều gió, còn thông | Rừng thông, một phần nhà ở | Giữ rừng để giữ đất, giữ nước |
| Sườn giữa và sườn dưới | Dốc vừa, đất dày hơn | Nhà ở bậc thang, vườn bậc thang | San gạt, taluy, thoát nước mùa mưa |
| Đáy thung lũng | Bằng, ẩm, gần suối, đọng lạnh | Nhà kính hoa, rau; hồ chứa | Ngập cục bộ, sương lạnh, ô nhiễm nước |
| Hồ nhân tạo | Nước tích từ suối, có đập | Tưới, cảnh quan, du lịch | Bồi lắng, phú dưỡng, an toàn đập |
Bảng cho thấy mỗi tầng địa hình có lợi thế và rủi ro riêng. Đời sống ở Lâm Viên hài hoà hay không phụ thuộc nhiều vào việc mỗi tầng được dùng đúng với tính chất của nó: đồi để giữ, sườn để ở có kiểm soát, thung lũng để trồng nhưng phải lo thoát nước.
Đất đỏ vàng: chua, nghèo, dễ trôi
Đất ở vùng đồi Đà Lạt phần lớn là đất đỏ vàng hình thành trên nền đá cổ, qua quá trình phong hoá lâu dài dưới khí hậu ẩm. Loại đất này thường chua, nghèo dinh dưỡng tự nhiên, nhất là trên sườn đồi nơi lớp đất mặt mỏng. Dưới rừng thông, lớp lá kim rụng tạo thành tầng thảm mục giúp giữ ẩm và che đất.
Ở đáy thung lũng, đất dày hơn và giàu mùn hơn do vật liệu trôi từ sườn xuống tích lại qua thời gian. Đây là lý do thung lũng được chọn làm vườn từ sớm. Qua nhiều chục năm canh tác, người làm vườn đã bón vôi, bón phân hữu cơ, phân chuồng để cải tạo đất, khiến đất vườn hôm nay khác nhiều so với đất tự nhiên ban đầu.
Nhược điểm lớn của đất đỏ vàng trên sườn dốc là dễ bị rửa trôi. Một trận mưa lớn trên mảnh vườn vừa cày xới có thể cuốn theo nhiều đất mặt xuống mương, xuống suối. Người làm vườn lâu năm vì vậy làm bậc thang, chừa băng cỏ, che phủ gốc, và tránh để đất trống trong mùa mưa.
Trong nhà kính, đất không bị mưa trực tiếp nên ít trôi hơn, nhưng lại có vấn đề khác: đất bị bón nhiều phân hoá học lâu năm có thể bị chai, mặn hoá, tích tồn dư. Chuyện canh tác cụ thể thuộc mục nông nghiệp nhà kính của trang.
Một dấu hiệu dễ thấy của đất bị rửa trôi là nước mương chuyển màu đỏ nâu sau mỗi trận mưa, và lớp cát mịn đọng lại ở chỗ mương bằng hoặc ở đầu hồ. Màu nước ấy chính là đất mặt của các vườn và sườn đồi phía trên đang trôi đi, thứ đất mất hàng trăm năm mới hình thành.
Địa hình ảnh hưởng tới đời sống thế nào
Đường đi. Đường trong phường men theo sườn đồi, lên xuống liên tục, nhiều khúc cua gấp. Đi xe máy cần quen với dốc dài, đặc biệt khi chở nặng hay khi đường ướt. Xe đạp chỉ hợp với người khoẻ hoặc đi đoạn ngắn.
Nhà ở. Nhà thường xây trên nền đã san gạt, phía sau là taluy, phía trước là dốc. Thoát nước quanh nhà là chuyện sống còn trong mùa mưa. Nhà ở đáy thung lũng thì phải lo nước dồn xuống từ sườn.
Vườn và nhà kính. Vườn bậc thang trên sườn tốn công làm và giữ, nhưng giảm trôi đất. Nhà kính ở đáy thung lũng thuận đất bằng nhưng cần mương thoát nước lớn và cẩn thận với không khí lạnh đọng ban đêm.
Tầm nhìn và cảnh quan. Địa hình nhấp nhô tạo nhiều điểm nhìn đẹp xuống thung lũng, hồ, là lợi thế cho du lịch, quán cà phê. Ngược lại, một công trình cao trên đỉnh đồi có thể thay đổi cảnh quan cho cả vùng xung quanh.
Sóng điện thoại và internet. Ở một số đáy thung lũng sâu, sóng yếu hơn trên đỉnh đồi. Người làm việc từ xa nên thử sóng tại chỗ trước khi thuê nhà.
Địa hình đang thay đổi
Địa hình tự nhiên thay đổi rất chậm, nhưng địa hình do con người tạo ra ở Lâm Viên thay đổi nhanh trong vài chục năm qua. Sườn đồi được san gạt làm nền nhà, làm đường; đáy thung lũng được lấp bớt để mở rộng nhà kính; mương suối được nắn thẳng, đổ bê tông.
Những thay đổi này có lợi cho sản xuất và đi lại, nhưng làm thay đổi cách nước chảy trên bề mặt. Nước mưa trước kia thấm qua rừng thông và đất vườn, nay chảy nhanh trên mái nhà kính, mặt đường bê tông, dồn xuống thung lũng trong thời gian ngắn hơn. Hệ quả là ngập cục bộ, sạt lở nhỏ ở taluy, bồi lấp hồ.
Một ví dụ dễ thấy: con mương nhỏ trước kia chỉ có nước trong vài trận mưa lớn, nay trận mưa nào cũng chảy xiết, mép mương bị khoét, bờ taluy nhà bên cạnh sụt dần. Người sống lâu năm trong xóm thường nhận ra những thay đổi này trước khi bất kỳ bản đồ nào ghi lại.
Hiểu địa hình là bước đầu để sống chung với nó: biết nhà mình nằm ở tầng nào, nước từ đâu chảy tới, đất có dễ trượt không. Với chính quyền và người quy hoạch, đó là cơ sở để quyết định đồi nào giữ rừng, thung lũng nào cần hành lang thoát nước, sườn nào không nên xây.
Câu hỏi thường gặp
Phường Lâm Viên-Đà Lạt cao bao nhiêu mét?
Độ cao phổ biến của vùng Đà Lạt là khoảng 1.500 mét so với mực nước biển, và phường Lâm Viên-Đà Lạt nằm trong mức này. Trong phạm vi phường, đỉnh đồi và đáy thung lũng chênh nhau vài chục mét, đủ tạo khác biệt về gió, nhiệt độ và sương.
Đất ở Lâm Viên có tốt để trồng trọt không?
Đất tự nhiên trên sườn đồi là đất đỏ vàng, chua, nghèo dinh dưỡng. Đất ở đáy thung lũng dày và giàu mùn hơn. Qua nhiều chục năm cải tạo bằng vôi, phân hữu cơ, đất vườn ở đây đã thích hợp trồng hoa, rau, nhưng cần chăm đúng cách để khỏi bạc màu.
Vì sao thung lũng ở Lâm Viên phủ nhiều nhà kính?
Vì đáy thung lũng bằng, đất dày, gần nguồn nước, rất thuận để làm vườn. Khi nghề hoa và rau công nghệ cao phát triển, nhà kính được dựng dày ở các thung lũng này để che mưa, giữ nhiệt và kiểm soát điều kiện trồng.
Làm nhà trên sườn đồi ở Đà Lạt cần lưu ý gì về địa hình?
Cần lưu ý san gạt vừa phải, làm taluy có kè và thoát nước, không đổ đất thải xuống sườn, và tính đường nước mưa chảy quanh nhà. Thủ tục giấy phép xây dựng cụ thể nên hỏi chính quyền phường và kỹ sư có chuyên môn.
Vì sao đường ở Lâm Viên nhiều dốc và khúc cua?
Vì đường phải men theo sườn đồi để nối các khu dân cư và vùng vườn nằm ở nhiều độ cao khác nhau. Mở đường thẳng sẽ phải đào đắp rất lớn. Người đi xe nên giữ tốc độ vừa phải, nhất là khi trời mưa hoặc có sương.