Rừng thông trên các đồi của phường Lâm Viên-Đà Lạt, quanh hồ Than Thở, thung lũng Tình Yêu, hồ Đa Thiện và rải rác ở vùng ven, chủ yếu là thông ba lá, loài thông bản địa phổ biến nhất của cao nguyên Lâm Viên. Đây là phần rừng ven đô còn tương đối liền của Đà Lạt, giữ đất, giữ nước, tạo cảnh quan và là nơi sống của chim, côn trùng.
Rừng thông ven đô cũng là phần rừng chịu sức ép lớn nhất: lấn chiếm làm nhà, làm vườn, mở đường, cháy rừng mùa khô, sâu hại, và cả việc người đi chơi để lại rác. Diện tích rừng ven đô của Đà Lạt đã giảm nhiều so với vài chục năm trước, dù không có con số cụ thể theo từng phường trong tài liệu phổ thông.
Bài này giới thiệu cây thông ba lá và rừng thông ven đô ở Lâm Viên, những gì rừng làm cho phường, những mối đe doạ và cách mỗi người góp phần giữ rừng. Rừng thông giữa phố trung tâm có bài ở trang của phường Xuân Hương-Đà Lạt; ở đây nói về rừng ở vùng ven.
Thông ba lá: cây của cao nguyên
Thông ba lá có tên như vậy vì lá kim mọc thành từng bó ba chiếc. Đây là loài thông bản địa, mọc tự nhiên trên các đồi của cao nguyên Lâm Viên và nhiều vùng cao khác của Đông Nam Á. Cây thân thẳng, vỏ nâu sẫm nứt thành mảng, tán thưa, khi trưởng thành có thể cao hàng chục mét.
Thông ba lá ưa sáng, chịu được đất chua, nghèo, nên mọc tốt trên sườn đồi đất đỏ vàng mà nhiều loài cây khác khó sống. Rừng thông tự nhiên thường thưa, dưới tán là cỏ và cây bụi thấp, tạo nên cảnh quan đồi thông đặc trưng của Đà Lạt.
Ở vùng Lâm Đồng còn có thông hai lá, thường mọc ở độ cao thấp hơn, và thông năm lá Đà Lạt, một loài quý hiếm sống ở vùng núi cao. Trong phạm vi phường Lâm Viên-Đà Lạt, gần như toàn bộ rừng thông người dân nhìn thấy hằng ngày là thông ba lá.
Phân biệt nhanh: nhặt một bó lá kim rụng dưới gốc, đếm số lá trong bó. Ba lá là thông ba lá. Đây là trò chơi quen thuộc của trẻ em Đà Lạt khi được đưa đi dạo đồi thông.
Rừng thông ven đô làm gì cho phường
Vai trò đầu tiên là giữ đất. Rễ thông ăn sâu vào sườn đồi, thảm lá kim phủ mặt đất, giúp giảm xói mòn khi mưa. Ở những đồi còn thông, đất ít trôi xuống thung lũng hơn hẳn đồi đã phát trắng.
Vai trò thứ hai là giữ nước. Đất dưới rừng thấm nước mưa tốt, nhả dần ra suối, giúp suối và hồ có nước lâu hơn trong mùa khô. Rừng thông quanh hồ Than Thở, hồ Đa Thiện vì vậy gắn trực tiếp với lượng nước của hai hồ.
Vai trò thứ ba là điều hoà vi khí hậu. Dưới tán thông, nắng dịu hơn, gió nhẹ hơn, độ ẩm cao hơn so với khu đất trống bên cạnh. Một dải rừng giữa các khu nhà kính giúp vùng ven bớt nóng vào trưa nắng.
Vai trò thứ tư là cảnh quan và đời sống. Đồi thông là hình ảnh nhận diện của Đà Lạt, là lý do khách đến thung lũng Tình Yêu, hồ Than Thở. Với người dân, đó là nơi đi bộ, tập thể dục, nơi trẻ con chơi, nơi chim về làm tổ. Mất rừng là mất cả những thứ không đo bằng tiền.
Những sức ép lên rừng thông ven đô
Sức ép lớn nhất là nhu cầu đất. Khi đất ở và đất vườn ở vùng ven tăng giá, mép rừng bị lấn dần: một căn chòi thành căn nhà, một luống rau thành nhà kính, một lối mòn thành đường bê tông. Mỗi lần lấn một ít, cộng lại qua nhiều năm thành một khoảng rừng lớn.
Sức ép thứ hai là cháy rừng trong mùa khô. Thảm lá kim khô và nhựa thông rất dễ bắt lửa; một tàn thuốc, một đống rác đốt gần mép rừng, một đốm lửa nấu nướng của người cắm trại có thể gây cháy lan. Chuyện mùa khô và nguy cơ cháy được viết ở một bài riêng.
Sức ép thứ ba là sâu hại, trong đó sâu róm thông là loài được nhắc nhiều ở Đà Lạt. Khi bùng phát, sâu ăn trụi lá nhiều mảng rừng, làm cây yếu đi. Lông sâu róm còn gây ngứa, dị ứng da cho người đi qua rừng, nên những đợt sâu bùng phát thường kèm khuyến cáo hạn chế vào rừng.
Sức ép thứ tư là tác động nhỏ nhưng thường xuyên: khắc tên lên thân cây, đóng đinh treo võng, bẻ cành, xả rác, đi xe máy vào rừng làm nén đất. Từng việc một không giết được cây, nhưng tích lại làm rừng xuống cấp.
Những sức ép này thường cộng dồn với nhau. Một khoảnh rừng bị mở lối mòn sẽ dễ có người vào đốt rác; chỗ bị cháy trơ ra dễ bị dựng chòi; chòi dựng rồi dễ thành vườn. Chặn được mắt xích đầu tiên thường dễ hơn nhiều so với xử lý khi mọi thứ đã thành.
Dấu hiệu rừng khoẻ và rừng đang xuống cấp
Người đi dạo không cần là chuyên gia vẫn có thể nhận ra tình trạng của một khoảnh rừng thông qua vài dấu hiệu:
| Quan sát | Rừng khoẻ | Rừng đang xuống cấp |
|---|---|---|
| Tán lá | Xanh đều, ít mảng nâu | Nhiều mảng lá nâu, trụi lá từng đám |
| Cây con | Có thông con mọc ở chỗ trống | Không thấy cây con, chỉ còn cây già |
| Mặt đất | Phủ thảm lá kim và cỏ | Đất trơ, rãnh xói, lối mòn nén chặt |
| Mép rừng | Ranh giới rõ, ổn định | Có chòi, hàng rào, vườn lấn vào |
| Thân cây | Vỏ nguyên, không vết cắt | Vết khắc, vết đẽo, vết đốt ở gốc |
| Rác | Ít hoặc không có | Bao bì, chai lọ, dấu đốt lửa |
Nếu thấy dấu hiệu bất thường như cây bị khoanh vỏ, chặt hạ, đốt gốc, hoặc có người dựng công trình trong rừng, người dân có thể báo cho tổ dân phố, chính quyền phường hoặc lực lượng kiểm lâm. Mô tả rõ vị trí, chụp ảnh nếu có thể.
Rừng thông trong đời sống người vùng ven
Với các thế hệ người Lâm Viên, rừng thông từng là một phần của sinh kế hằng ngày. Người già còn nhớ thời nhặt lá thông khô về nhóm bếp, nhặt cành khô làm củi sưởi mùa lạnh, nhặt trái thông về chơi hoặc làm đồ trang trí. Những việc nhặt nhạnh nhỏ ấy, làm có chừng mực, không hại rừng mà còn làm sạch bớt lớp vật liệu dễ cháy dưới tán.
Ngày nay ít nhà còn đun bếp bằng lá thông, nhưng rừng vẫn gắn với đời sống theo cách khác: là nơi đi bộ buổi sáng, nơi chụp ảnh cưới, nơi trẻ con chơi trốn tìm, nơi những quán cà phê nhỏ chọn đặt bàn nhìn ra đồi. Cái mùi nhựa thông ngai ngái sau cơn mưa là thứ nhiều người đi xa nhớ nhất về quê.
Mối gắn bó này là tài sản cho việc giữ rừng. Người coi đồi thông là sân sau nhà mình sẽ không để ai đốt rác, chặt cây ở đó. Ngược lại, khi rừng bị rào kín, tách khỏi đời sống, người dân dễ coi đó là chuyện của người khác.
Ai giữ rừng thông ven đô
Rừng thông ở Đà Lạt được quản lý theo nhiều hình thức: có phần do ban quản lý rừng, có phần giao cho các đơn vị, có phần nằm trong khu du lịch, và có phần giao khoán cho hộ dân nhận bảo vệ. Ai chịu trách nhiệm khoảnh rừng nào tuỳ vào hồ sơ quản lý cụ thể.
Lực lượng kiểm lâm có nhiệm vụ tuần tra, xử lý vi phạm về rừng. Chính quyền phường chịu trách nhiệm quản lý đất đai, xây dựng trên địa bàn, trong đó có việc ngăn lấn chiếm đất rừng để xây dựng trái phép.
Các khu du lịch như thung lũng Tình Yêu, hồ Than Thở cũng có trách nhiệm giữ rừng trong khu của mình, vì rừng là chính cảnh quan họ kinh doanh.
Nhưng không cơ quan nào canh được từng gốc thông. Người dân sống sát rừng là những người thấy sớm nhất mọi thay đổi. Một cộng đồng quan tâm đến rừng, sẵn sàng lên tiếng khi thấy vi phạm, là lớp bảo vệ hiệu quả nhất.
Mỗi người có thể làm gì cho rừng thông
Giữ rừng thông ven đô không chỉ là việc của cơ quan chức năng. Những việc nhỏ sau đây ai cũng làm được:
- Không đốt lửa trong và gần rừng thông vào mùa khô, kể cả đốt rác vườn sát mép rừng.
- Không hút thuốc khi đi trong rừng, hoặc nếu có thì dập tắt hẳn, mang tàn ra khỏi rừng.
- Mang rác về, kể cả vỏ hạt, giấy ăn; rác hữu cơ cũng không nên bỏ lại.
- Không khắc, đóng đinh, treo võng bằng dây siết vào thân thông.
- Đi trên lối có sẵn, không mở lối mới, không chạy xe máy vào rừng.
- Không mua bán, sử dụng đất lấn rừng; trước khi mua đất vùng ven, kiểm tra kỹ nguồn gốc đất.
- Báo tin khi thấy cháy, chặt phá, lấn chiếm, càng sớm càng dễ xử lý.
Với trẻ em, dạy con nhận biết cây thông, nhặt bó lá đếm số lá, nghe tiếng thông reo là cách gieo tình yêu rừng từ nhỏ. Người lớn lên yêu đồi thông sẽ là người giữ nó sau này.
Rừng thông và tương lai của vùng ven
Đà Lạt đang mở rộng, vùng ven như Lâm Viên là nơi chịu áp lực đô thị hoá trực tiếp. Câu hỏi đặt ra không phải là giữ hay không giữ rừng, mà là giữ những mảng nào, nối chúng với nhau thế nào để rừng vẫn còn chức năng giữ đất, giữ nước, giữ cảnh quan.
Những mảng rừng quan trọng nhất thường là rừng trên đỉnh và sườn trên của đồi, rừng quanh hồ, rừng dọc suối. Nếu giữ được các mảng này như những hành lang xanh, vùng ven vẫn có thể phát triển nhà ở, nông nghiệp ở các tầng thấp hơn mà không đánh mất bản sắc.
Trồng lại rừng trên đất trống, đất bị lấn chiếm đã thu hồi cũng là việc đang được làm ở nhiều nơi trong Đà Lạt. Thông con cần nhiều năm mới thành rừng, nên mỗi cây trồng hôm nay là món quà cho thế hệ sau.
Một hướng làm ở nhiều đô thị trên thế giới là coi rừng ven đô như hạ tầng xanh, tức là một phần của hệ thống thoát nước, làm mát, giữ đất của thành phố, chứ không chỉ là đất chưa dùng tới. Nhìn rừng theo cách đó, việc giữ một đồi thông có giá trị cụ thể không kém việc xây một con mương hay một hồ điều hoà.
Câu hỏi thường gặp
Rừng thông ở Lâm Viên chủ yếu là loại thông gì?
Chủ yếu là thông ba lá, loài thông bản địa phổ biến nhất trên cao nguyên Lâm Viên. Có thể nhận biết bằng cách đếm lá kim trong một bó: ba lá là thông ba lá. Thông hai lá và thông năm lá có ở các vùng khác của Lâm Đồng.
Vì sao rừng thông quanh hồ quan trọng với hồ?
Rừng giữ đất khỏi trôi xuống làm hồ nông dần, và giúp nước mưa thấm vào đất rồi nhả dần ra suối, nuôi hồ trong mùa khô. Mất rừng quanh hồ, hồ vừa bồi lắng nhanh vừa cạn nhanh hơn.
Sâu róm thông có nguy hiểm cho người không?
Lông sâu róm thông có thể gây ngứa, nổi mẩn, dị ứng da khi chạm phải, kể cả khi lông bay theo gió. Khi có thông báo sâu bùng phát, nên hạn chế vào rừng, mặc áo dài tay, và nếu bị dị ứng nặng thì đi khám.
Thấy người chặt thông hoặc lấn rừng thì báo ai?
Có thể báo cho tổ dân phố, chính quyền phường hoặc lực lượng kiểm lâm trên địa bàn. Nên mô tả rõ vị trí, thời điểm và chụp ảnh nếu an toàn. Không tự đối đầu với người vi phạm.
Có được cắm trại, đốt lửa trong rừng thông không?
Đốt lửa trong rừng thông, nhất là mùa khô, rất nguy hiểm vì thảm lá kim và nhựa thông dễ cháy lan. Cắm trại chỉ nên ở những điểm được phép, theo quy định của đơn vị quản lý, và tuyệt đối không để lửa không người trông.