Ở các làng hoa thuộc phường Lâm Viên-Đà Lạt, loại hoa trồng nhiều nhất là cúc, sau đó đến hồng, cẩm chướng, đồng tiền và cát tường; các loại hoa phụ như salem, baby, thạch thảo được trồng để cắm kèm; ly và lay ơn có nhưng ít hộ chuyên. Mỗi loại có cách nhân giống, chu kỳ và yêu cầu khí hậu riêng, nên nhìn cách trồng là đoán được loại hoa ngay từ ngoài nhà kính.
Bài này đi qua từng nhóm hoa theo góc nhìn của người trồng: cây trông thế nào trong luống, nhân giống ra sao, mất bao lâu từ trồng đến cắt, và vì sao khí hậu mát quanh năm của Đà Lạt lại hợp với loại đó. Nếu bạn ghé làng hoa và muốn biết mình đang nhìn thấy gì, đây là bản hướng dẫn nhận diện.
Vì sao Đà Lạt trồng được nhiều loại hoa xứ lạnh
Đà Lạt nằm ở độ cao khoảng một nghìn rưỡi mét, nhiệt độ ban ngày mát, ban đêm lạnh, ít biến động theo mùa so với đồng bằng. Nhiều loại hoa vốn có nguồn gốc ôn đới hoặc cận nhiệt như hồng, cẩm chướng, cúc, ly cần chính kiểu khí hậu này: không quá nóng để hoa không bị nhỏ, màu không bị nhạt; đủ lạnh về đêm để cây tích luỹ dinh dưỡng.
Chênh lệch nhiệt độ ngày đêm còn giúp màu hoa đậm và cành cứng hơn. Đó là lý do hoa Đà Lạt có tiếng về độ bền khi chở đi xa. Ngược lại, điểm yếu của khí hậu này là mùa mưa dài và độ ẩm cao, môi trường thuận lợi cho nấm bệnh. Nhà kính ra đời phần lớn để che mưa, chứ không phải để sưởi ấm như ở các nước lạnh.
Thêm vào đó, các làng hoa ven đô có lợi thế đất đã được cải tạo qua nhiều thế hệ, hệ thống mương, hồ chứa nước, và đặc biệt là một cộng đồng người trồng tích luỹ kinh nghiệm. Giống mới nhập về, chỉ sau vài mùa là các hộ trong làng đã biết cách chăm.
Cũng cần nói rằng không phải loại hoa nào cũng hợp Đà Lạt. Những loài ưa nóng, ưa nắng gắt như nhiều loại hoa nhiệt đới thì trồng ở đây chậm lớn, ra hoa kém. Vì vậy cơ cấu hoa của làng là kết quả của nhiều thế hệ thử và bỏ: loại nào hợp thì ở lại, loại nào không thì nhường chỗ.
Bảng nhận diện các loại hoa chính
Bảng sau tóm tắt các loại hoa bạn hay gặp ở Thái Phiên, Hà Đông và các thung lũng lân cận, kèm cách nhân giống phổ biến và chu kỳ tương đối. Chu kỳ chỉ là khoảng ước lượng, phụ thuộc giống và thời tiết:
| Loại hoa | Nhân giống phổ biến | Chu kỳ tương đối | Đặc điểm trồng dễ nhận ra |
|---|---|---|---|
| Cúc (đơn, chùm, lá nhám, mẫu đơn) | Giâm ngọn từ cây mẹ | Vài tháng mỗi lứa | Đèn chong ban đêm, lưới đỡ cành, tỉa nụ |
| Hồng | Cây ghép trên gốc khoẻ | Trồng một lần, cắt nhiều năm | Cành gập ở gốc để nuôi cây, cắt quanh năm |
| Cẩm chướng | Giâm ngọn | Cắt nhiều đợt trong một vụ dài | Lưới đỡ nhiều tầng, lá xanh phấn |
| Đồng tiền | Cây con nuôi cấy mô | Cắt liên tục nhiều tháng | Luống cao, hoa mọc từ gốc |
| Cát tường | Cây con từ hạt, ươm kỹ | Vụ dài, ươm chậm | Luống thấp, lưới đỡ, cánh mỏng như lụa |
| Ly (lily) | Củ giống, phần lớn nhập | Một lứa mỗi củ | Cây thẳng, lá xoắn quanh thân, che nắng |
| Lay ơn | Củ giống | Một lứa mỗi củ | Cây cao, thường trồng ngoài trời hoặc nhà lưới |
| Salem, baby, thạch thảo | Hạt hoặc giâm | Ngắn đến vừa | Bụi nhỏ, hoa li ti dùng cắm kèm |
Một nhà vườn hiếm khi trồng hết các loại này. Phần lớn chọn hai ba loại hợp với diện tích, vốn và mối hàng của mình.
Cúc: loại hoa nuôi cả làng
Cúc là loại hoa phổ biến nhất ở làng hoa Lâm Viên. Có hai dạng chính: cúc đơn, mỗi cành một bông lớn, nhà vườn phải ngắt hết nụ phụ; và cúc chùm, mỗi cành nhiều bông nhỏ, ngắt nụ chính ở đỉnh để các nụ bên nở đều. Ngoài ra còn nhiều tên gọi theo hình dáng như cúc lá nhám, cúc mẫu đơn, cúc kim, cúc ping pong, tên dân gian thay đổi theo thời và theo chợ.
Cúc được nhân giống bằng cách giâm ngọn từ cây mẹ. Mỗi hộ hoặc mỗi vườn ươm giữ một luống cây mẹ, bấm ngọn đem giâm cho ra rễ rồi trồng ra luống. Cúc là cây ngày ngắn: khi đêm dài, cây chuyển sang ra nụ. Vì vậy nhà vườn dùng đèn chiếu ban đêm để kéo dài phần thân, rồi tắt đèn cho cây ra hoa đúng ngày mong muốn. Đây là nguồn gốc của cảnh làng hoa sáng đèn ban đêm, có bài riêng giải thích kỹ.
Cúc chiếm ưu thế vì nhu cầu quanh năm, đặc biệt vào rằm, mùng một, Tết và các dịp lễ. Cây chịu được việc chở xa, cành cứng, bông lâu tàn. Nhược điểm là công tỉa nụ rất lớn và dễ bị một số loại sâu, bệnh lá khi độ ẩm cao kéo dài.
Với khách xem, cách nhận ra luống cúc nhanh nhất là nhìn lưới: cúc trồng dày, mỗi mắt lưới một cây, lưới được nâng dần lên theo chiều cao cây. Luống cúc đơn sắp cắt thường có từng bông được bọc lưới nhỏ hoặc túi để giữ dáng bông tròn đều, không bị dập khi chen nhau. Nhìn màu lá cũng đoán được giống: cúc lá nhám lá dày, sẫm, mặt lá ráp tay; cúc chùm lá nhỏ, mảnh hơn.
Hồng, cẩm chướng và đồng tiền: ba loại cắt quanh năm
Hồng Đà Lạt được trồng từ cây ghép, một lần trồng có thể cắt hoa nhiều năm. Nhà vườn thường gập một phần cành ở gốc nằm ngang để làm "lá nuôi", còn cành mọc thẳng lên mới cắt bán. Mỗi giống hồng có màu, độ dài cành và sức chống bệnh khác nhau; nhà vườn thay giống theo thị hiếu từng thời. Hồng đòi chăm kỹ vì nấm bệnh trên lá và hoa phát triển nhanh trong mùa mưa.
Cẩm chướng có lá màu xanh phấn, thân mảnh, phải giăng nhiều tầng lưới để cành mọc thẳng. Có cẩm chướng đơn (một bông lớn mỗi cành) và cẩm chướng chùm. Cây cho hoa nhiều đợt trong một vụ, nên một luống cẩm chướng đứng trong nhà kính khá lâu. Cẩm chướng hợp khí hậu mát và rất nhạy với độ ẩm đất: tưới thừa là thối gốc.
Đồng tiền trồng từ cây con nuôi cấy mô, thường trên luống đất cao để thoát nước. Hoa mọc từ gốc trên cuống dài, không có lá trên cuống. Một khóm cho hoa liên tục nhiều tháng. Bông đồng tiền to, màu tươi, nhưng cuống mềm dễ gập nên khi đóng thùng nhà vườn phải đỡ từng bông bằng phễu giấy hoặc nhựa nhỏ.
Cát tường, ly, lay ơn và nhóm hoa phụ
Cát tường (lisianthus) là loại hoa có cánh mỏng như lụa, màu phấn hoặc viền tím. Cây ươm từ hạt rất nhỏ, giai đoạn cây con chậm và dễ chết, nên nhiều hộ mua cây con từ vườn ươm chuyên. Từ khi trồng ra luống đến khi cắt mất khá lâu, đổi lại hoa đẹp và được ưa chuộng trong cắm hoa cưới, hoa bàn tiệc.
Hoa ly và lay ơn đều trồng từ củ. Với ly, củ giống phần lớn nhập khẩu, chi phí đầu vào cao, mỗi củ chỉ cho một lứa hoa. Vì thế trồng ly là việc của những hộ có vốn và kinh nghiệm, thường canh đúng dịp Tết. Lay ơn trước đây trồng nhiều ngoài trời, nay ít hơn, một phần vì thị hiếu thay đổi.
Nhóm hoa phụ gồm salem, baby, thạch thảo, sao tím và nhiều loại hoa nhỏ khác. Chúng không phải "nhân vật chính" của bó hoa nhưng không thể thiếu khi cắm. Hoa phụ thường có chu kỳ ngắn, ít tốn công tỉa, hợp với những hộ có diện tích nhỏ hoặc muốn xen vụ giữa hai lứa hoa chính. Một số loại hoa phụ còn được sấy khô làm hoa khô, quà lưu niệm.
Hoa chậu, lan và cây con: những dòng hàng khác của làng
Ngoài hoa cắt cành, các làng hoa ở Lâm Viên còn làm hoa chậu. Phổ biến nhất là cúc chậu, nhất là cúc mâm xôi và các dạng cúc tròn bông nhỏ phủ kín chậu, được canh để nở rộ đúng Tết. Hoa chậu tốn chỗ, tốn công xoay chậu, và chở đi xa khó hơn hoa cắt cành vì nặng và dễ gãy. Bù lại, chậu đẹp được người mua trả công xứng đáng hơn trên mỗi cây.
Một số hộ chuyên lan, trong đó có địa lan và các loại lan lai trồng trong chậu. Lan là dòng hàng đòi vốn lớn, thời gian nuôi dài, và người trồng phải hiểu kỹ từng giống. Ở Đà Lạt có những vườn lan nổi tiếng, nhưng phần lớn nằm rải rác chứ không tập trung một làng.
Dòng hàng thứ ba ít người để ý là cây con. Nhiều hộ không trồng hoa đến khi cắt mà chuyên giâm ngọn cúc, ươm cát tường, nhân cây mẹ để bán cho vườn khác. Đây là mắt xích quan trọng: chất lượng cây con quyết định hơn một nửa thành bại của lứa hoa. Bài về giống hoa và nuôi cấy mô trong mục này nói kỹ hơn về mắt xích đó.
Vì sao làng hoa thay giống liên tục
Người đi làng hoa vài năm một lần sẽ thấy màu và dáng hoa thay đổi. Đó không phải do ngẫu hứng của nhà vườn. Thị hiếu của người mua ở thành phố đổi rất nhanh, nhất là trong hoa cưới và hoa trang trí: có năm chuộng màu pastel, có năm chuộng màu đậm; có năm cúc nhỏ bông được săn, có năm lại về cúc đơn bông lớn. Thương lái truyền tín hiệu đó về vườn, nhà vườn đổi giống theo.
Lý do thứ hai là bệnh. Một giống trồng liên tục trên cùng một vùng lâu ngày sẽ dần dễ nhiễm bệnh hơn, năng suất giảm. Thay giống mới có sức chống chịu tốt hơn là cách đơn giản nhất để giữ năng suất, dù mỗi lần thay là một lần nhà vườn phải học lại: giống mới cần chiếu đèn bao lâu, cắt ở độ nở nào, chịu mưa ra sao.
Lý do thứ ba là chi phí. Giống có bản quyền, giống nhập khẩu thường đắt; giống đã nhân rộng trong nước rẻ hơn nhưng có thể kém đều. Nhà vườn cân nhắc giữa giống "đẹp nhưng đắt" và giống "quen nhưng cũ" theo vốn và mối hàng của mình. Vì thế cùng một làng mà mỗi vườn một vẻ, và chính sự đa dạng đó làm làng hoa hấp dẫn người đến xem.
Câu hỏi thường gặp
Hoa nào được trồng nhiều nhất ở làng hoa Thái Phiên?
Cúc là loại được trồng nhiều nhất vì nhu cầu quanh năm, nhất là dịp rằm, mùng một và Tết. Sau cúc là hồng, cẩm chướng, đồng tiền và cát tường. Mỗi hộ thường chuyên một hai loại để dồn kinh nghiệm và mối hàng.
Hoa ly ở Đà Lạt có phải trồng từ củ nhập khẩu không?
Phần lớn củ giống hoa ly dùng ở Đà Lạt là củ nhập khẩu, mỗi củ cho một lứa hoa. Điều này làm chi phí đầu vào cao, nên chỉ những hộ có vốn và kinh nghiệm mới trồng ly, thường canh cho hoa nở đúng dịp Tết.
Vì sao hoa cúc ở Đà Lạt cần chiếu đèn ban đêm?
Cúc là cây ngày ngắn, gặp đêm dài sẽ chuyển sang ra nụ sớm khi thân còn ngắn. Chiếu đèn ban đêm giữ cây tiếp tục mọc thân lá, đến khi đủ chiều cao nhà vườn mới tắt đèn cho cây ra hoa, nhờ đó điều khiển được ngày thu hoạch.
Hoa cát tường có khó trồng không?
Cát tường khó ở giai đoạn cây con: hạt rất nhỏ, cây con mọc chậm và dễ chết nếu ẩm độ, ánh sáng không đều. Nhiều hộ mua cây con từ vườn ươm chuyên. Ra luống rồi cây cũng cần thời gian dài mới cho hoa, nên đòi kiên nhẫn và kỹ thuật.
Hoa phụ như salem, baby có trồng ở Lâm Viên không?
Có. Salem, baby, thạch thảo và nhiều loại hoa nhỏ khác được trồng để cắm kèm hoa chính. Chúng có chu kỳ ngắn, ít tốn công tỉa nên hợp với hộ có diện tích nhỏ hoặc muốn xen vụ giữa hai lứa hoa chính.
Hoa hồng Đà Lạt trồng một lần được bao lâu?
Hồng trồng từ cây ghép có thể cho cắt hoa trong nhiều năm nếu chăm tốt, khác với cúc hay ly chỉ cho một lứa. Thời gian cụ thể tuỳ giống, sức cây và mức độ bệnh; khi năng suất giảm rõ hoặc thị hiếu đổi, nhà vườn sẽ thay giống mới.