Làng hoa Hà Đông nằm trên địa bàn phường 8 cũ của Đà Lạt, nay thuộc phường Lâm Viên-Đà Lạt. Làng mang tên Hà Đông vì những người lập làng là người từ vùng Hà Đông ngoài Bắc lên khai đất trồng rau, trồng hoa từ thời Pháp thuộc. Đến nay, dù nhiều thế hệ đã sinh ra trên phố núi, làng vẫn giữ một phần nếp sống và giọng nói của quê gốc.
So với Thái Phiên, Hà Đông nhỏ hơn, nằm gần khu dân cư nội thị hơn, và đã bị đô thị hoá lấn vào nhiều. Nhưng tiếng là làng hoa lâu đời, kỹ tính, với những hộ giữ nghề qua ba bốn đời. Bài này kể làng từ góc nghề: người Hà Đông trồng gì, làm theo nếp nào, và làng thay đổi ra sao khi phố lan tới.
Vì sao một làng trên cao nguyên lại mang tên Hà Đông
Trong lịch sử Đà Lạt, nhiều làng ven đô được đặt theo quê gốc của người lập làng. Khi thành phố cần rau xanh và hoa cho người châu Âu sinh sống, chính quyền thời đó và các chủ đồn điền đưa người từ đồng bằng lên khai khẩn. Một nhóm người từ vùng Hà Đông, nơi vốn có nghề trồng rau, trồng hoa ven Hà Nội, được đưa lên lập làng. Họ đặt tên làng theo quê mình, như một cách giữ gốc.
Người Hà Đông mang theo kinh nghiệm thâm canh trên diện tích nhỏ của đồng bằng Bắc Bộ: chia luống kỹ, chăm từng gốc, tận dụng từng mét đất. Kinh nghiệm này hợp với đất đồi Đà Lạt, nơi mỗi hộ chỉ có mảnh vườn không lớn. Theo thời gian, làng chuyển từ trồng rau là chính sang trồng hoa, vì hoa cho giá trị cao hơn trên cùng diện tích và có thị trường rộng hơn.
Các mốc năm chính xác của đợt di dân và ngày lập làng được nhắc khác nhau tuỳ nguồn, nên ở đây chỉ ghi là thời Pháp thuộc. Phần lịch sử hình thành các làng ven đô của phường được viết kỹ ở mục lịch sử và tên gọi của trang.
Nếp làng người Bắc trên phố núi
Đi trong làng Hà Đông, bạn sẽ nghe giọng Bắc pha lẫn giọng Đà Lạt. Người già vẫn giữ cách xưng hô, cách nấu món ăn ngày giỗ, ngày Tết theo kiểu quê gốc. Nhiều gia đình còn giữ thói quen họp họ, ghi gia phả, nhắc con cháu về làng cũ ngoài Bắc dù chưa từng về. Đó là nét riêng mà khách vội ít để ý, nhưng người làm nghiên cứu văn hoá Đà Lạt thường nhắc tới.
Nếp làm vườn cũng mang dấu ấn đó. Người Hà Đông nổi tiếng chăm kỹ, sạch luống, ít bỏ đất trống. Vườn nhỏ nhưng xoay vòng nhiều vụ, tận dụng cả lối đi hẹp để đặt chậu. Ở đây người ta hay nói "đất ít thì phải làm tinh". Tinh ở đây không chỉ là chăm, mà là biết chọn loại hoa hợp với từng góc vườn: chỗ nhiều nắng trồng gì, chỗ khuất gió trồng gì.
Cùng với đó là tinh thần làng xóm. Những năm khó khăn, làng có lệ đổi công: nhà này cắt hoa Tết thì nhà kia sang giúp, rồi trả công bằng ngày làm. Nếp ấy nay nhạt đi vì thuê người làm theo ngày tiện hơn, nhưng các mối quan hệ họ hàng, láng giềng vẫn là thứ giữ nhiều hộ lại với nghề.
Một nét nữa dễ thấy là cách người làng gọi tên các xóm, các con dốc, các khu vườn theo tên chủ hộ đầu tiên hoặc theo đặc điểm địa hình, kiểu "dốc nhà ông A", "vườn dưới trũng". Những cái tên ấy không có trên giấy tờ hành chính nhưng là bản đồ sống của làng. Khi phường mới thành lập và địa chỉ đổi theo đơn vị mới, những tên gọi dân gian này lại càng đáng được ghi lại.
Từ vườn rau sang vườn hoa: nghề đổi qua các thế hệ
Những thế hệ đầu ở làng Hà Đông chủ yếu trồng rau: bắp cải, su hào, cà rốt, xà lách, những loại rau ôn đới mà thành phố lúc đó cần. Hoa khi ấy là phần phụ, trồng ở góc vườn, bán cho các gia đình khá giả và cơ sở trong thành phố. Dần dần, khi đường sá nối Đà Lạt với các đô thị phía Nam tốt hơn, hoa có thể chở đi xa mà vẫn tươi, nghề hoa mới thật sự thành nghề chính.
Thế hệ tiếp theo trồng hoa ngoài trời trên luống đất, che tạm bằng phên, bạt khi trời mưa lớn. Hoa ngoài trời đẹp vào mùa khô nhưng mùa mưa dễ hỏng, năng suất không đều. Bước ngoặt đến khi nhà kính phủ nilon được dùng rộng rãi ở Đà Lạt: có mái che, nhà vườn chủ động được thời vụ, giảm thiệt hại do mưa và bệnh, hoa đều cả năm.
Thế hệ trẻ hiện nay làm nghề trong điều kiện khác hẳn: giống mua từ vườn ươm hoặc phòng nuôi cấy mô, tưới nhỏ giọt, có người điều khiển hệ thống bằng điện thoại. Nhưng điều người già hay nói vẫn đúng: máy móc thay được sức người chứ không thay được con mắt nhìn cây. Biết lúc nào lá đổi màu, lúc nào cây "khát", lúc nào nên cắt, vẫn là thứ chỉ có được sau nhiều mùa đứng trong vườn.
Hà Đông và Thái Phiên: hai làng hoa trong cùng một phường
Sau sáp nhập, hai làng hoa nổi tiếng này nằm chung trong phường Lâm Viên-Đà Lạt. Chúng giống nhau ở nghề, khác nhau ở quy mô, gốc gác và vị trí:
| Tiêu chí | Làng hoa Hà Đông | Làng hoa Thái Phiên |
|---|---|---|
| Phường cũ | Phường 8 | Phường 12 |
| Gốc người lập làng | Người từ vùng Hà Đông ngoài Bắc | Phần đông người miền Trung |
| Vị trí | Gần khu dân cư nội thị hơn | Xa trung tâm hơn, nhiều thung lũng và đồi thông |
| Quy mô nhà kính | Nhỏ hơn, xen nhà ở dày | Rộng, nhiều sườn đồi phủ kín |
| Sức ép đô thị hoá | Lớn, nhiều vườn đã thành nhà ở, nhà nghỉ | Có nhưng chậm hơn |
| Hàng chủ lực | Hoa cắt cành và hoa chậu, nhiều hộ làm hoa chất lượng cao | Cúc, hồng, cẩm chướng, đồng tiền, hoa phụ |
Bảng chỉ là nét chung. Trong từng làng mỗi hộ có lựa chọn riêng, và ranh giới vùng trồng hoa giữa các làng ngày càng mờ đi vì người ta thuê đất trồng ở nhiều nơi.
Nghề hoa ở Hà Đông hôm nay
Làng Hà Đông bây giờ không còn những cánh vườn rộng như ký ức người già. Nhiều mảnh đất ven đường đã thành nhà ở, nhà cho thuê, cơ sở lưu trú. Hộ còn giữ nghề thường dồn vào nhà kính nhỏ phía sau nhà, hoặc thuê đất ở các thung lũng xa hơn để trồng, còn nhà ở làng chỉ là nơi sơ chế và giao hàng.
Vì diện tích hẹp, nhiều hộ chọn hướng làm hoa có giá trị cao trên mỗi mét vuông: hoa cắt cành chất lượng tốt, hoa chậu chăm kỹ cho dịp Tết, hoặc nhân giống cây con bán cho vườn khác. Một số con cháu trong làng học ngành nông nghiệp, sinh học rồi về làm vườn ươm, phòng nuôi cấy mô nhỏ, nối nghề cũ với kỹ thuật mới.
Nghề hoa Hà Đông cũng gắn chặt với thị trường địa phương. Nhiều hộ cung cấp hoa cho các tiệm hoa trong Đà Lạt, cho khách sạn, nhà hàng, cho các dịp cưới hỏi trong vùng. Mối hàng gần giúp họ bớt phụ thuộc vào thương lái đường dài, nhưng cũng đồng nghĩa với việc phải giữ chất lượng đều quanh năm vì khách quen dễ nhận ra hàng kém.
Những thay đổi người trong làng hay nhắc tới
Đất vườn thành đất ở. Khi Đà Lạt mở rộng, đất ven đô tăng giá trị. Nhiều gia đình chia đất cho con, xây nhà, nên diện tích trồng hoa trong làng thu hẹp. Người già tiếc, người trẻ thấy đó là lựa chọn hợp lý; cả hai cách nhìn đều có lý của nó.
Nước và thoát nước. Mái nhà kính và mái nhà ở dày lên làm nước mưa chảy nhanh hơn xuống chỗ trũng. Mùa mưa, một số đoạn đường làng ngập cục bộ. Chuyện này được bàn nhiều ở cả Đà Lạt, không riêng làng Hà Đông.
Người làm nghề già đi. Nhiều hộ chỉ còn ông bà làm hoa, con cháu đi làm việc khác. Thuê người làm thì được, nhưng kinh nghiệm canh lịch hoa, nhìn bệnh, chọn giống phải qua nhiều năm mới có.
Khách tham quan đến nhiều hơn. Tên làng xuất hiện trên mạng, khách đến chụp ảnh. Có hộ mở cửa đón khách, có hộ thấy phiền. Khách ghé nên hiểu đây là làng đang sống, không phải phim trường.
Mùa Tết ở làng Hà Đông
Làng nghề hoa nào cũng bận nhất vào tháng Chạp, và Hà Đông không ngoại lệ. Từ khoảng hai tháng trước Tết, nhà vườn đã tính xong lứa hoa cuối năm: luống nào cắt trước ngày hai mươi tháng Chạp để chở xa, luống nào cắt sát Tết để bán trong vùng. Hoa chậu được xếp thành hàng dài, ngày nào cũng phải xoay chậu cho cây nhận nắng đều, kẻo cây nghiêng về một phía.
Những ngày cao điểm, làng thức gần như suốt đêm. Người lớn cắt, bó, người nhỏ phụ xếp thùng, xe tải nhỏ vào ra liên tục. Đó cũng là lúc cảm nhận rõ nhất nếp làng: hàng xóm sang phụ nhau, ai xong việc trước thì qua giúp nhà còn dở. Đêm giao thừa, nhiều nhà mới thật sự ngồi lại ăn bữa cơm đầu tiên sau cả tháng làm không nghỉ.
Ra Tết, làng chùng xuống. Nhà vườn dọn luống, xử lý gốc cũ, cải tạo đất và chuẩn bị lứa mới. Với người làm hoa, Tết không phải là kỳ nghỉ mà là mùa thu hoạch lớn nhất năm; nghỉ ngơi thật sự chỉ đến sau rằm tháng Giêng.
Nếu bạn muốn tìm hiểu làng Hà Đông
Làng Hà Đông hợp với người muốn hiểu lịch sử dân cư Đà Lạt hơn là người tìm cảnh đẹp chụp nhanh. Vài gợi ý để chuyến đi có ích:
- Đi bộ trong các đường làng thay vì chạy xe máy lướt qua; nhiều chi tiết như sân phơi, mái nhà cũ, lán sơ chế hoa chỉ thấy khi đi chậm.
- Nếu có người lớn tuổi sẵn lòng trò chuyện, hỏi về quê gốc, về những ngày đầu khai vườn; đây là nguồn ký ức quý mà sách vở ít ghi.
- Tôn trọng giờ làm: tránh làm phiền buổi sáng sớm, lúc cắt và bó hoa.
- Ghé vào dịp gần Tết để thấy làng làm hoa chậu, nhưng chuẩn bị tinh thần là người dân rất bận.
- Không quay phim, chụp ảnh cận mặt người đang làm nếu chưa hỏi.
Làng không có điểm "check-in" đóng dấu nào, và đó chính là giá trị của nó: một làng nghề trồng hoa thật, với người thật, giữa một phường đang đô thị hoá nhanh.
Câu hỏi thường gặp
Làng hoa Hà Đông thuộc phường nào hiện nay?
Làng hoa Hà Đông nằm trên địa bàn phường 8 cũ của thành phố Đà Lạt. Từ ngày 1/7/2025, phường 8 cùng phường 9 và phường 12 cũ hợp thành phường Lâm Viên-Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, nên làng nay thuộc phường này.
Vì sao làng ở Đà Lạt lại tên là Hà Đông?
Những người lập làng là dân từ vùng Hà Đông ngoài Bắc được đưa lên Đà Lạt khai đất trồng rau, trồng hoa từ thời Pháp thuộc. Họ đặt tên làng theo quê gốc, giống nhiều làng ven Đà Lạt khác cũng mang tên quê của người khai phá.
Làng Hà Đông còn trồng hoa nhiều không?
Diện tích trồng hoa trong làng đã giảm vì nhiều vườn thành đất ở. Nhưng vẫn còn nhiều hộ giữ nghề, làm hoa cắt cành, hoa chậu, hoặc thuê đất ở thung lũng khác để trồng và dùng nhà trong làng làm nơi sơ chế, giao hàng.
Có thể vào vườn hoa ở làng Hà Đông chụp ảnh không?
Tuỳ từng hộ. Nhà kính là nơi sản xuất, nhiều chủ vườn không cho người lạ vào vì sợ lây bệnh cây và làm hỏng hoa. Bạn hỏi trước, nếu được cho vào thì đi theo lối chủ vườn chỉ và không chạm vào cây.
Người làng Hà Đông còn giữ phong tục ngoài Bắc không?
Nhiều gia đình vẫn giữ cách nấu món ngày giỗ, ngày Tết, cách xưng hô và thói quen ghi gia phả theo quê gốc. Qua nhiều thế hệ, những nếp ấy hoà lẫn với lối sống Đà Lạt nên không còn nguyên vẹn, nhưng vẫn dễ nhận ra khi trò chuyện với người lớn tuổi.